
Chùa Tam Sơn - Cảm Ứng tự
Chùa làng Tam Sơn là công trình kiến trúc được khởi dựng từ thời Lý - là trung tâm Phật giáo lớn của cả nước từ thế kỷ XI - gắn liền với vị vua sáng lập vương triều khai mở nền văn minh Đại Việt - Vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ). Căn cứ vào các nguồn tư liệu ở địa phương thì thời Lê (Thế kỷ XVI, XVII, XVIII) chùa Cảm Ứng được trùng tu, mở rộng và trở thành nổi tiếng trong vùng. Năm 1519 Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu (đăng khoa năm 1518) sau khi thi đỗ, làm quan đã hưng công tu sửa chùa. Đến những năm 1693 - 1697, chùa Tam Sơn lại được tu tạo mở mang rộng hơn.
Thời Nguyễn dưới triều vua Minh Mệnh (1828) chùa được tu sửa, xây dựng và đưa quy mô của chùa thành chùa trăm gian. Công trình kiến trúc này tồn tại đến năm 1972 thì bị đế quốc Mỹ ném bom tàn phá nặng nề. Sau đó nhân dân làng Tam Sơn đã đóng góp tiền của tôn tạo, sửa chữa lại ngôi chùa làng theo kiểu kiến trúc xưa. Toàn bộ công trình kiến trúc của chùa Tam Sơn hiện nay có các hạng mục bố cục theo kiểu: “Nội công ngoại Quốc” gồm: Tam quan, Tiền đường, Trung đường, thượng điện, Gác chuông, Tiền tế, Tam bảo hậu, đền Đông, đền Tây, nhà tổ và nhà tăng, nhà mẫu, vườn tháp, khu nhà phụ.
Trong thời kỳ cách mạng chùa là nơi hoạt động cách mạng của đồng chí Ngô Gia Tự và các đồng chí trong tổ chức Hội Việt nam thanh niên cách mạng. Trong những ngày cách mạng tháng Tám (1945), chùa là địa điểm ra mắt của tổ chức Việt Minh làng Tam Sơn.
Đặc biệt chùa là nơi đón tiếp chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm xã Tam Sơn năm 1967. Tại cổng chùa hiện còn cây đa do Bác Hồ trồng vẫn xanh tốt là niềm tự hào của nhân dân địa phương.
Trải thăng trầm lịch sử ngôi chùa bị xuống cấp và trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo để có dáng vẻ như ngày hôm nay.
Năm 2005 làm lại Tiền đường và thượng điện.
Năm 2007 làm Tam Bảo hậu, làm lại Gác chuông, đền Đông, nát bậc đá, lát sân.
- Cảnh quan môi trường, đất đai
Chùa Tam Sơn tọa lạc trên núi Chùa, xung quanh là cây cối xanh mát thâm nghiêm u tịch. Từ chân núi bước qua những bậc đá để lên tới chùa, tổng thể các công trình kiến trúc của chùa hòa nhập với thiên nhiên, cây cối chủ yếu là thông xanh tốt thâm nghiêm cổ thụ quanh ngọn núi thật là một cảnh đẹp giữa chốn làng quê. Đất đai của di tích với diện tích rất lớn 13.898m2, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Những xung quanh đất chùa trên sườn núi từ xưa nhân dân địa phương đã đặt mộ dày đặc làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp và cảnh quan di tích.
- Các công trình kiến trúc
Tiền đường có 7 gian, bộ khung chịu lực bàng gỗ lim to chắc khỏe, bao gồm 8 bộ vì, mỗi bộ vì 4 hàng chân cột, các bộ vì có kết cấu giống nhau, vì nóc “chồng rường giá chiêng” vì nách “bán giá chiêng bẩy hiên”. Hệ thống cửa mở 5 gian kiểu “thượng song hạ bản”. Trung đường 3 gian 3 bộ vì mỗi bộ vì liên kết 4 hàng chân cột. Thượng điện 3 gian 4 mái đao cong gian liên kết 4 bộ vì mỗi bộ vì 4 hàng chân cột, 2 bộ vì nóc gian giữa kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường bẩy hiên”.
Đình Đông có 9 gian, kết cấu các bộ vì giống nhau kết cấu vì kèo đơn giản, quá giang gác tường.
Đình Tây có 9 gian, bộ khung chịu lực bằng gỗ lim, bao gồm 10 bộ vì mỗi bộ vì 2 hàng chân cột, 3 bộ vì đầu tiên kiểu “vì kèo”, còn 7 bộ vì tiếp theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, xây kiểu hành lang không có cửa, thông thoáng.
Gác Chuông kết cấu khung gỗ chịu lực, chồng diêm 2 tầng 8 mái, liên kết 4 hàng cột dọc với 4 hàng cột ngang.
Tam bảo hậu mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Công (I). Tiền đường 5 gian, bộ khung chịu lực bằng gỗ, xung quanh tường bao cũng làm bằng gỗ, bao gồm 6 bộ vì mỗi bộ vì liên kết với 4 hàng chân cột, các bộ vì có kết cấu giống nhau, vì nóc kết cấu kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách “chồng rường bẩy hiên”. Hệ thống cửa thượng song hạ bản mở cả 5 gian. Thiêu hương 2 gian. Thượng điện 4 gian, kết cấu vì nóc chồng rường, vì nách kẻ chuyền.
Nhà Tổ 3 gian bao gồm 4 bộ vì, mỗi bộ vì liên kết với 4 hàng chân cột, chốn 2 cột giữa, vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ chuyền bẩy hiên”.
Nhà Mẫu 3 gian, bao gồm 4 bộ vì, mỗi bộ vì liên kết 4 hàng chân cột, vì nóc kết cấu kiểu “vì kèo”, quá giang gác tường, xung quanh xây tường, cửa mở 3 gian, theo kiểu bức bàn.
- Nhân vật được thờ
Giống như tất cả các ngôi chùa khác, chùa Tam Sơn được dựng lên từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ các vị tổ sư là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương.
Ngoài ra chùa còn là nơi thờ tự: Đức thánh Sơn thần, thờ 3 công chúa (con vua triều Lý), thờ trạng nguyên Nguyễn Quán Quang, thờ tiết nghĩa đại vương Nguyễn Tự Cường.
- Các hiện vật tiêu biểu.
01 bia đá “Tam Sơn xã đăng khoa bi ký”, niên đại Thành Thái 14 (1902)
01 khánh đá TK 17
38 pho tượng Phật TK 20
13 bức hoành phi TK 20
11 đôi câu đối TK 20
01 chuông đồng TK 20
03 hương án TK 20
01 đôi ngựa thờ TK 20
- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích
Chùa Tam Sơn có các ngày sự lệ
Ngày 8/Giêng: Ngày hội làng, nhân dân rước từ đình Giỏ lên đền và chùa
Ngày 16 – 17/8: Ngày sự lệ giỗ Tiết nghĩa đại vương Nguyễn Tự Cường
Ngày 22/Chạp: Lễ tất niên và trao đồ nhà thánh, giỗ tổ.
Nhân dân tổ chức làm lễ chuẩn bị tại đình làng sau đó rước lên chùa để tế lễ. Các hoạt động sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra hàng năm đều gắn liền với sự lệ của nhà Phật như: Phật Đản, Vu Lan, tuần rằm mùng một hàng tháng… Hàng ngày các cụ trong ban khánh tiết thường xuyên chuẩn bi, hoa quả, hương đăng lễ Phật. Ngoài ra một năm còn có ngày giỗ tổ chùa.
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Chùa Tam Sơn là công trình tôn giáo tiêu biểu có giá trị về nhiều mặt nên từ xưa vẫn luôn được chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm bảo vệ gìn giữ. Tại chùa có sư trụ trì cùng các hội người cao tuổi trực tiếp trông nom di tích.
Đất đai của di tích đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng, tránh sự xâm lấn vi phạm. Các công trình kiến trúc của di tích thường xuyên được quan tâm tu bổ, nguồn kinh phí chủ yếu do nhân dân đóng góp.
Hoạt động tâm linh tín ngưỡng ở di tích được tổ chức tốt, đúng quy định của Pháp luật, thực hiện tốt việc phát huy giá trị di tích.
Tuy nhiên trong việc quản lý cũng có một số bất cập: Trước cổng chính của chùa nhân dân dùng làm nơi tập kết của một số hộ kinh doanh gỗ gây mất mỹ quan. Chùa chưa có hệ thống phòng cháy chữa cháy nên đã từng xảy ra hỏa hoạn thiêu hủy một phần kiến trúc năm 2015. Rất may đã được nhân dân chữa cháy kịp thời nên thiệt hại không quá lớn.
- Đánh giá giá trị di tích
Giá trị về lịch sử, văn hóa: Ngôi chùa là chứng tích lịch sử tồn tại và phát triển của quê hương có giá trị lớn về nhiều mặt. Những hiện vật tiêu biểu bảo lưu tại chùa có giá trị về bảo tàng, nghiên cứu khoa học. Chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng làng xã, nơi bảo tồn, phát huy những thuần phong mỹ tục và đoàn kết cộng đồng. Đặc biệt chùa là địa điểm hoạt động, che dấu cho các chiến sĩ cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa và đã vinh dự được Bác Hồ về thăm năm 1967.
Giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, thẩm mỹ: Chùa Tam Sơn với kiến trúc và đồ thờ tự có giá trị lớn về mặt kiến trúc, thẩm mỹ, nghệ thuật. Công trình kiến trúc khá lớn, nhiều hạng mục tiêu biểu cho kiến trúc thờ tự truyền thống cùng nghệ thuật chạm khắc thể hiện bàn tay khéo léo của người nghệ nhân dân gian.
- Phân loại di tích
Loại hình Lịch sử và Kiến trúc nghệ thuật