
Đình Hồi Quan
- Lịch sử hình thành:
Đình Hồi Quan được khởi dựng vào năm Vĩnh Thịnh 11 (1715) và đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo để giữ được dáng vẻ uy nghi như ngày hôm nay.
Năm 1901 nhân dân đã tiến hành trùng tu lớn cho ngôi đình
Năm 1988 trùng tu lại đầu hồi phía Tây (bên trái) của đình
Năm 2006, 2007 trùng tu tòa tiền tế
Năm 2010 xây tường bao quanh khuôn viên di tích và xây cổng đình
Năm 2018 thay lại toàn bộ ván sàn đình, đồng thời UBND xã lập dự án tu bổ tôn tạo tổng thể tòa đình chính với kinh phí dự toán trên 10 tỷ đồng. Dự án đã được Bộ VHTTDL thỏa thuận, nhưng địa phương chưa triển khai tu bổ.
Đình Hồi Quan được xếp hạng di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp quốc gia, Quyết định số 100 -VH/QĐ ngày 09 tháng 01 năm 1990.
- Cảnh quan môi trường, đất đai:
Đình Hồi Quan nằm trên thửa đất có diện tích 2442,6 m2 bao gồm các công trình: Tiền tế, Đại đình và Hậu cung. Theo nhân dân địa phương cho biết thế đất làng Hồi Quan tựa như một chiếc thuyền, ngôi đình đặt giữa lòng thuyền, tức vị trí giữa làng mặt quay hướng Nam, phía trước có khoảng sân rộng lát gạch, bên ngoài là ao đình, xung quanh là chợ và khu dân cư đông đúc.
- Các công trình kiến trúc:
Đình Hồi Quan có các công trình: Tiền tế, Đại Bái, Hậu Cung.
Tiền Tế: xây kiểu phương đình, kiến trúc kiểu 4 mái 4 đao cong xung quanh để thoáng không xây tường bao tạo không gian thoáng đãng cho công trình. Bộ khung được liên kết 2 hàng cột dọc 4 hàng cột ngang, toàn bộ hệ khung chịu lực được làm bằng gỗ lim chắc khỏe, trên quá giang, xà, kẻ chạm khắc tinh xảo đề tài rồng mây, lân, phượng.
Đại Bái: quy mô 3 gian 2 chái 2 dĩ, kiến trúc 4 mái đao cong, nhìn từ phía ngoài vào thì cho cảm giác ngôi đình khá thấp, nhưng khi bước vào bên trong lại rất cao và rộng, hai bên đình là có sàn gỗ cao 0,8m. Bộ khung được liên kết bởi 8 hàng cột dọc, 6 hàng cột ngang, gồm 6 bộ vì chính, sử dụng chất liệu gỗ Lim. Kết cấu vì nóc kiểu chồng rường giá chiêng, vì nách kiểu chồng rường, cột hiên đỡ kẻ hiên.
Theo các cụ trong làng cho biết, đình Hồi Quan do 4 hiệp thợ cùng làm, mỗi hiệp thợ làm một góc đình, nhưng lắp lại khá khớp. Phần chạm khắc được trang trí trên các đầu bảy, con giường tập trung ở gian giữa, các con giường được chồng khít lên nhau, tạo thành các bức phù điêu chạm đề tài tứ linh, tứ quý, rồng ổ, tiên cưỡi rồng… các mảng chạm kiểu chạm thủng, chạm nổi, chạm kênh bong khá đặc sắc. Hệ thống cửa bức bàn mở gian giữa còn mặt trước đại đình để kiểu chấn song gỗ tạo sự thông thoáng cho công trình.
Hậu Cung: quy mô 1 gian 2 dĩ dài 15m, rộng 5 m. Ngăn cách Đại đình với hậu cung là bức cửa cấm kiểu bức bàn.
- Nhân vật được thờ:
Đình Hồi Quan thờ đức thánh Tam Quang - danh tướng phò giúp Hai Bà Trưng. Theo thần tích tại đình cho biết Tam Quang là con bà Tạ Thị Duyên Nương- người trụ trì chùa Sùng Ân tự (Chùa Hồi Quan). Nhưng đó là do ông vâng mệnh trời xuống đầu thai dáng thế, cứu nước, cứu dân - chứ không phải người thường. Khi lớn lên ông đã tuyển mộ dân binh, lãnh đạo quân ra nhập cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Thắng lợi trở về, ông được vua phong cho thực ấp ở vùng đất quê hương này. Khi giặc ngoại xâm (Mã Viện) kéo sang một lần nữa, ông vâng mệnh triều đình cầm quân đánh giặc. Cũng nhờ tấm gương cao đẹp của chủ soái, ông đã dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng chứ không chịu đầu hàng quân giặc. Sau khi ông mất dân làng đã lập miếu thờ phụng, tưởng nhớ ông mãi mãi về sau. Đến khi dựng đình năm 1715 dân làng đã rước ông về thờ phụng cho đến bay giờ. Ngoài thờ đức thánh Tam Quang đình Hồi Quan còn thờ một vị hậu thần là bà Nguyễn Thị Ngọc Thường - người quê hương đã có nhiều công đức cùng dân làng tu sửa đình
- Các hiện vật tiêu biểu:
Đình Hồi Quan còn bảo lưu được nhiều tài liệu hiện vật có giá trị, đặc biệt là hệ thống tư liệu hán nôm như 01 bản thần tích (bản sao), 30 đạo sắc phong thời Lê – Nguyễn (Đức Long năm thứ 6 (1634), Dương Hoà năm thứ 2 (1636), Dương Hoà năm thứ 3 (1637), Dương Hoà năm thứ 5 (1639), Dương Hoà năm thứ 8 (1642), Phúc Thái năm thứ 3 (1645), Phúc Thái năm thứ 5 (1647), Phúc Thái năm thứ 7 (1649), Khánh Đức năm thứ 4 (1652), Thịnh Đức năm thứ 3 (1655), Thịnh Đức năm thứ 4 (1656), Thịnh Đức năm thứ 5 (1647), Vĩnh Thọ năm thứ 3 (1660), Cảnh Trị năm thứ 8 (1670), Dương Đức năm thứ 3 (1674), Chính Hoà năm thứ 4 (1684), Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (1710), Vĩnh Khánh năm thứ 2 (1730), Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740), Cảnh Hưng năm thứ 28 (1767), Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783), Chiêu Thống năm thứ nhất (1787), Quang Trung năm thứ 5 (1792), Cảnh Thịnh năm thứ 2 (1794), Tự Đức năm thứ 6 (1853), Tự Đức năm thứ 33 (1880), Đồng Khánh năm thứ 2 (1887), Duy Tân năm thứ 3 (1909), Khải Định năm thứ 9 (1924) - 2 đạo). 01 bia đá thời Lê (1715), 01 Quán tẩy chạm cửu long (thời Nguyễn), 02 hương án (thời Nguyễn), tượng phỗng (thời Nguyễn), hộp sắc (thời Nguyễn), Ngai, bài vị (thời Nguyễn), 19 hoành phi (Tk XIX – XX), 21 đôi câu đối (Tk XIX – XX) cùng các đồ thờ tự như lộc bình, bát hương, bát bửu, long đình, chân nến, đài nước… Các tài liệu hiện vật trên không chỉ minh chứng cho sự tồn tại của di tích trong lịch sử mà còn góp phần làm sáng tỏ lịch sử vùng đất, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng của người dân nơi đây.
- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích:
Xưa lễ hội của đình Hồi Quan tổ chức từ ngày mồng 6 đến ngày 10 tháng Hai hàng năm. Ngay từ ngày mùng 4 nhân dân đã quét dọn, mùng 5 làng đã tổ chức tế lễ mở cửa đình, bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt chuẩn bị cho lễ hội.
Chiều mồng 6 nhân dân tập trung đông đủ tại đình làng tổ chức rước Thánh từ nghè về đình để tế lễ và tổ chức lễ hội. Lễ vật tết Thánh gồm có xôi, gà, thủ lợn… Đội hình đoàn rước thánh được bố trí như sau: Dẫn đầu đoàn rước là đội cờ ngũ hành, tiếp đến là đội cờ nhiễu, rồi đến trống cái, chiêng, bát âm, ngựa thờ, bát biểu, cờ lệnh, kiệu long đình… sau kiệu long đình là các quan viên mũ áo chỉnh tề đi thành hai hàng, tiếp đến là đông đảo dân làng và quý khách thập phương. Sau khi rước Thánh từ nghè về đình diễn ra 3 tuần tế.
Sáng ngày mồng 7 tế 2 tuần tiến lễ: lễ vật bao gồm : bánh dầy, bánh trưng. Chiều ngày mùng 7 tế Diệu Hoàng tửu- xôi gà.
Mùng 8 sáng Tế xuân- tiến lễ xôi gà- thần nông tiễn xôi chuối. Chiều tế xuất tịch- tiến lễ xôi chuối- thần nông tiễn xôi chuối.
Ngày mùng 10 tế dã đám, đóng cửa đình và kết thúc lễ hội.
Trong những ngày hội, song song với phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như: hát tuồng, chèo, đu quay, đấu vật, cờ người, bắt vịt… thu hút đông đảo nhân dân tham dự.
Hàng năm, ngoài những ngày tiết lệ diễn ra tại đình Hồi Quan còn có ngày lễ như: Sáng mùng 1 tháng Giêng lễ động thổ, cụ Từ làm lễ xong cuốc 3 nhát cuốc đất trước vườn đình làm phép; Ngày 15 tháng giêng đầu xuân làm lễ cầu yên để dân làng được bình an- thịnh vượng; Ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch ngày giỗ thường nhật của bà: “Tá Phụ Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Tường”; Lễ xôi mới năm 2 lần chiêm, mùa vào ngày mùng 1 hoặc 15; Ngày 1/11 âm lịch giỗ thường nhật Đức Vương mẫu Tạ Thị Duyên Nương; Ngày 15/11 ngày giỗ đức Thánh Đại Vương Tam Quang; 27/12 âm lịch làng làm lễ bàn giao cụ từ, chiều tổ chức mừng thọ; Tối 30/12 âm lịch các cụ làm lễ tất niên đón năm mới
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Di tích đã có tường bao khép kín, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hàng ngày địa phương cắt cử người trông nom, hương khói thờ thánh, các hoạt động tâm linh tín ngưỡng diễn ra tại di tích được địa phương tổ chức tốt. Tuy nhiên trong công tác bảo vệ phát huy giá trị di tích vẫn còn những tồn tại như sau:
Công tác tuyên truyền về di tích chưa được chú trọng, thông tin về di tích còn hạn chế.
Việc huy động nguồn lực để tu bổ di tích còn hạn chế, hiện trạng các hạng mục công trình đã xuống cấp, hư hỏng nhiều xong chưa được đầu tư tu bổ; di tích chưa có các hạng mục phụ trợ nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di tích như nhà Tạo soạn, nhà thủ Từ, nhà khách, bếp, công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn.
Di tích không có hệ thống phòng cháy chữa cháy, camera giám sát.
- Đánh giá giá trị di tích:
Đình Hồi Quan là công trình văn hoá tín ngưỡng, nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân địa phương. Ngôi đình vốn được khởi dựng từ năm 1715 để tôn thờ đức thánh Tam Quang - danh tướng dưới thời Hai Bà Trưng có công đánh giặc Hán ở thế kỷ thứ I. Hiện đình Hồi Quan bao gồm các hạng mục công trình như Tiền tế, Đại bái, Hậu cung, trong đình còn bảo lưu được nhiều tài liệu hiện vật có giá trị như thần phả, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối... có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.
Ngoài ra đình Hồi Quan còn là di tích cổ có giá trị nổi bật về kiến trúc nghệ thuật, với các công trình kiến trúc còn bảo tồn khá nguyên vẹn có từ khi khởi dựng đến nay. Các bức chạm khắc, những họa tiết hõa văn trang trí trên cấu kiện gỗ ở đình Hồi Quan là tác phẩm nghệ thuật mang triết lý nhân sinh quan, thế giới quan của người xưa.
Từ xưa đến nay đình Hồi Quan luôn là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng làng xã nơi đây. Hàng năm, vào những ngày hội của đình đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân hướng về cội nguồn, góp phần thắt chặt tình làng nghĩa xóm.
- Phân loại di tích
Loại hình di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật